Investing.com – S&P Global Ratings đã nâng xếp hạng tín dụng quốc gia dài hạn bằng nội tệ của Liban từ “CCC” lên “CCC+” vào thứ Sáu, đồng thời giữ nguyên xếp hạng ngoại tệ là “SD” (vỡ nợ có chọn lọc).
Việc nâng xếp hạng này phản ánh sự cải thiện khả năng thanh toán nợ nội tệ của chính phủ, nhờ vào thặng dư ngân sách liên tiếp trong ba năm và những tiến bộ trong các cải cách cần thiết để nhận các khoản vay mới từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
Theo dữ liệu của S&P, Liban dự kiến sẽ ghi nhận trung bình khoảng 2% GDP tổng thặng dư chính phủ trong giai đoạn 2023-2025, và kể từ năm 2020 đã thực hiện đúng nghĩa vụ nợ thương mại bằng nội tệ.
Các tổ chức xếp hạng đánh giá triển vọng ổn định cho xếp hạng nội tệ, cân bằng giữa các cải cách kinh tế đang diễn ra và các thách thức chính sách lớn, bao gồm tăng trưởng kinh tế yếu, hạn chế tài chính công, rủi ro an ninh và nhu cầu tái thiết lớn.
S&P chỉ ra rằng chính phủ đã thanh toán đầy đủ lãi vay nợ nội tệ đối với Ngân hàng Trung ương Liban (BdL), sau khi đã tạm dừng các khoản thanh toán này từ năm 2021 đến 2023. Các khoản thanh toán đã được khôi phục vào năm 2024, và tất cả các khoản nợ sẽ được thanh toán hết vào năm 2025.
Việc đồng lira Liban mất giá mạnh đã làm giảm đáng kể tỷ lệ nợ nội tệ trong tổng nợ của chính phủ, từ khoảng 85% GDP năm 2020 xuống dưới 1% vào cuối năm 2025.
Xếp hạng ngoại tệ của Liban vẫn là “SD”, trước đó chính phủ đã tuyên bố ngừng thanh toán các khoản nợ thương mại bằng ngoại tệ vào tháng 3 năm 2020, với tổng giá trị khoảng 31 tỷ USD trái phiếu euro.
Mặc dù các cải cách gần đây diễn ra tốt đẹp, nhưng S&P dự báo trong vòng một năm tới, việc tái cơ cấu nợ công sẽ không có tiến triển đáng kể do tiến trình cải cách ngành ngân hàng chậm chạp và chiến lược phục hồi tiền gửi chưa được thực hiện.
Chính phủ đã đạt được tiến bộ đáng kể trong các cải cách cần thiết để được phê duyệt bởi IMF, bao gồm việc thông qua Luật Tái cơ cấu Ngân hàng vào tháng 7 năm 2025 và Luật Bảo mật Ngân hàng vào tháng 4 năm 2025. Chính phủ cũng đã phê duyệt Luật ổn định tài chính và hoàn trả tiền gửi vào tháng 12 năm 2025, nhưng luật này vẫn cần được Quốc hội phê chuẩn.
S&P dự đoán, sau khi tăng trưởng ước tính 3,5% vào năm 2025 và giảm 6,5% vào năm 2024, tăng trưởng GDP thực tế trong giai đoạn 2026-2029 sẽ khoảng 3,0%-3,5%.
Kể từ tháng 2 năm 2024, đồng lira Liban đã ổn định ở mức 1 USD đổi lấy 89.500 lira Liban. Nhờ vào sự ổn định tỷ giá, cải thiện trong hiệu suất tài chính và sự giúp đỡ từ mức lạm phát cao trong sáu năm qua, dự kiến nợ chính phủ ròng của Liban sẽ giảm từ khoảng 253% GDP vào cuối năm 2022 xuống còn 91% vào cuối năm 2026.
Các tổ chức xếp hạng dự báo trong những năm tới, thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ giảm nhưng vẫn duy trì ở mức cao trung bình 11% GDP, thấp hơn mức trung bình 16% GDP của giai đoạn 2023-2025.
Được dịch bởi trí tuệ nhân tạo. Để biết thêm thông tin, vui lòng xem điều khoản sử dụng của chúng tôi.
Xem bản gốc
Trang này có thể chứa nội dung của bên thứ ba, được cung cấp chỉ nhằm mục đích thông tin (không phải là tuyên bố/bảo đảm) và không được coi là sự chứng thực cho quan điểm của Gate hoặc là lời khuyên về tài chính hoặc chuyên môn. Xem Tuyên bố từ chối trách nhiệm để biết chi tiết.
S&P nâng xếp hạng tiền tệ của Lebanon lên "CCC+"
Investing.com – S&P Global Ratings đã nâng xếp hạng tín dụng quốc gia dài hạn bằng nội tệ của Liban từ “CCC” lên “CCC+” vào thứ Sáu, đồng thời giữ nguyên xếp hạng ngoại tệ là “SD” (vỡ nợ có chọn lọc).
Việc nâng xếp hạng này phản ánh sự cải thiện khả năng thanh toán nợ nội tệ của chính phủ, nhờ vào thặng dư ngân sách liên tiếp trong ba năm và những tiến bộ trong các cải cách cần thiết để nhận các khoản vay mới từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
Theo dữ liệu của S&P, Liban dự kiến sẽ ghi nhận trung bình khoảng 2% GDP tổng thặng dư chính phủ trong giai đoạn 2023-2025, và kể từ năm 2020 đã thực hiện đúng nghĩa vụ nợ thương mại bằng nội tệ.
Các tổ chức xếp hạng đánh giá triển vọng ổn định cho xếp hạng nội tệ, cân bằng giữa các cải cách kinh tế đang diễn ra và các thách thức chính sách lớn, bao gồm tăng trưởng kinh tế yếu, hạn chế tài chính công, rủi ro an ninh và nhu cầu tái thiết lớn.
S&P chỉ ra rằng chính phủ đã thanh toán đầy đủ lãi vay nợ nội tệ đối với Ngân hàng Trung ương Liban (BdL), sau khi đã tạm dừng các khoản thanh toán này từ năm 2021 đến 2023. Các khoản thanh toán đã được khôi phục vào năm 2024, và tất cả các khoản nợ sẽ được thanh toán hết vào năm 2025.
Việc đồng lira Liban mất giá mạnh đã làm giảm đáng kể tỷ lệ nợ nội tệ trong tổng nợ của chính phủ, từ khoảng 85% GDP năm 2020 xuống dưới 1% vào cuối năm 2025.
Xếp hạng ngoại tệ của Liban vẫn là “SD”, trước đó chính phủ đã tuyên bố ngừng thanh toán các khoản nợ thương mại bằng ngoại tệ vào tháng 3 năm 2020, với tổng giá trị khoảng 31 tỷ USD trái phiếu euro.
Mặc dù các cải cách gần đây diễn ra tốt đẹp, nhưng S&P dự báo trong vòng một năm tới, việc tái cơ cấu nợ công sẽ không có tiến triển đáng kể do tiến trình cải cách ngành ngân hàng chậm chạp và chiến lược phục hồi tiền gửi chưa được thực hiện.
Chính phủ đã đạt được tiến bộ đáng kể trong các cải cách cần thiết để được phê duyệt bởi IMF, bao gồm việc thông qua Luật Tái cơ cấu Ngân hàng vào tháng 7 năm 2025 và Luật Bảo mật Ngân hàng vào tháng 4 năm 2025. Chính phủ cũng đã phê duyệt Luật ổn định tài chính và hoàn trả tiền gửi vào tháng 12 năm 2025, nhưng luật này vẫn cần được Quốc hội phê chuẩn.
S&P dự đoán, sau khi tăng trưởng ước tính 3,5% vào năm 2025 và giảm 6,5% vào năm 2024, tăng trưởng GDP thực tế trong giai đoạn 2026-2029 sẽ khoảng 3,0%-3,5%.
Kể từ tháng 2 năm 2024, đồng lira Liban đã ổn định ở mức 1 USD đổi lấy 89.500 lira Liban. Nhờ vào sự ổn định tỷ giá, cải thiện trong hiệu suất tài chính và sự giúp đỡ từ mức lạm phát cao trong sáu năm qua, dự kiến nợ chính phủ ròng của Liban sẽ giảm từ khoảng 253% GDP vào cuối năm 2022 xuống còn 91% vào cuối năm 2026.
Các tổ chức xếp hạng dự báo trong những năm tới, thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ giảm nhưng vẫn duy trì ở mức cao trung bình 11% GDP, thấp hơn mức trung bình 16% GDP của giai đoạn 2023-2025.
Được dịch bởi trí tuệ nhân tạo. Để biết thêm thông tin, vui lòng xem điều khoản sử dụng của chúng tôi.